Adriano Celentano
Adriano Celentano là một nghệ sĩ người Ý người đã thực hành các nghề ca sĩ, trình diễn, diễn viên, diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch, nhạc sĩ truyền hình, nhà hài hước, diễn viên hài, nhà sản xuất và vũ công.
Adriano Celentano là một nghệ sĩ người Ý người đã thực hành các nghề ca sĩ, trình diễn, diễn viên, diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch, nhạc sĩ truyền hình, nhà hài hước, diễn viên hài, nhà sản xuất và vũ công.
Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1920 tại Rome, Alberto Sordi là một nghệ sĩ người Ý đa tài, hoạt động với vai trò diễn viên, hài kịch gia, lồng tiếng, đạo diễn, ca sĩ, nhà soạn nhạc và nhà biên kịch. Ông qua đời ở Rome vào ngày 24 tháng 2 năm 2003. Sự nghiệp của ông kéo dài hơn 60 năm và bao gồm 160 bộ phim, trong đó ông đạo diễn 18 bộ. Sordi, được công nhận là một nhân vật chủ chốt trong thể loại commedia all'italiana và một trong những diễn viên quan trọng nhất của điện ảnh Ý, thường khắc họa những thay đổi trong xã hội Ý thông qua các màn trình diễn của mình. Sordi bắt đầu sự nghiệp của mình với một giai đoạn 15 năm đảm nhận những vai nhỏ như quần chúng hoặc diễn viên phụ, xuất hiện với vai trò quần chúng trong bộ phim Scipione l'Africano năm 1937. Ban đầu, anh theo đuổi các nghiên cứu âm nhạc, hát trong Hợp xướng Nhà nguyện Sistine khi mới bảy tuổi và học opera trong vài năm sau khi giọng hát thay đổi. Mặc dù anh từng học ngắn hạn tại Viện Thương mại Giulio Romano ở Trastevere và sau đó tốt nghiệp ngành kế toán để làm hài lòng mẹ, nhưng anh cũng theo học Học viện diễn viên filodrammatici ở Milan nhưng bị đuổi học vì phương ngữ Romanesco của mình và nhận thấy thiếu tài năng. Anh tìm được thành công sớm với vai trò lồng tiếng, đáng chú ý là lồng tiếng cho Oliver Hardy bắt đầu từ năm 1937. Kinh nghiệm sân khấu của anh tiếp tục định hình khả năng hài hước của mình. Sordi đạt được sự nổi tiếng với vai trò diễn viên hàng đầu vào những năm 1950 và được coi là một trong những người diễn giải vĩ đại nhất của hài kịch Ý. Ông thường xuyên hợp tác với Nino Manfredi, Vittorio Gassman và Ugo Tognazzi, tạo thành một bộ tứ nổi tiếng. Một bộ ba nổi bật khác cũng bao gồm Aldo Fabrizi và Anna Magnani, góp phần vào việc thể hiện điện ảnh La Mã. Mặc dù những tác phẩm ban đầu của ông đã khẳng định vị thế là một thế lực hài hước, nhưng ông bắt đầu diễn giải những nhân vật bi kịch phức tạp vào những năm 1960. Trong suốt sự nghiệp của mình, Sordi lấy cảm hứng cho các nhân vật từ xã hội Ý, hợp tác với các đạo diễn, nhà văn và biên kịch nổi tiếng. Ông đã giành được năm giải Nastro d'argento, mười giải David di Donatello và một giải Golden Globe. Để ghi nhận những đóng góp to lớn của ông cho điện ảnh, ông đã được trao tặng Sư tử Vàng cho Thành tựu trọn đời.
Sinh ra ở Rome với tên Aldo Fabbrizi vào ngày 1 tháng 11 năm 1905, Aldo Fabrizi là một nghệ sĩ giải trí người Ý, hoạt động với vai trò diễn viên, đạo diễn, nhà biên kịch và diễn viên hài. Cha ông, Giuseppe Fabbrizi, qua đời khi ông mới mười một tuổi, còn mẹ ông, Angela Petrucci, làm nghề bán trái cây từ Tivoli. Fabrizi bắt đầu sự nghiệp của mình vào năm 1931 tại một nhà hát ngoại ô ở Rome, đạt được thành công địa phương thông qua các tiểu phẩm hài và độc thoại khi biểu diễn với công ty 'Reginella'. Ông trở thành một nhân vật nổi bật trong cảnh kịch và avanspettacolo ở Rome, đóng góp cho tờ báo tiếng địa phương 'Rugantino' và xuất bản một cuốn sách thơ Rome, 'Lucciche ar sole', vào năm 1928. Sự nghiệp của Fabrizi mở rộng vượt ra ngoài sân khấu. Ông ra mắt điện ảnh năm 1942 với Avanti c'è posto... và sau đó đạt được sự công nhận đáng kể với vai diễn một vị cha anh hùng, Don Morosini, trong Rome, Open City (1945) của Roberto Rossellini. Ông cũng lồng tiếng cho các nhân vật trong phim như Maddalena... zero in condotta (1940) và Ladri di biciclette (1948). Trong suốt những năm 1950 và 1960, ông thường xuyên hợp tác với Totò và Peppino De Filippo, cả trên màn ảnh và sân khấu; Fabrizi và Totò có một tình bạn thân thiết và thích thú với việc diễn xuất ngẫu hứng cùng nhau. Ông đạo diễn bộ phim chính kịch Immigrants năm 1948, và giành giải Băng Trắng cho màn trình diễn của mình trong Prima comunione (1950) cũng như một giải khác cho Father's Dilemma . Fabrizi đạt được thành công sân khấu hơn nữa với vở hài kịch âm nhạc Rugantino (1964). Năng khiếu và những đóng góp của Fabrizi cho ngành giải trí Ý đã được công nhận rộng rãi. Ông nhận được Giải David di Donatello Đặc biệt năm 1988 cho sự nghiệp của mình, và giành được hai Giải Nastro d'Argento, trong đó có một giải cho bộ phim *We All Loved Each Other So Much*. Ông cũng được vinh danh tại Liên hoan Phim Cannes năm 1952 cho kịch bản hay nhất của bộ phim *Cops and Robbers*. Các màn trình diễn của ông thường khắc họa những kiểu người La Mã như lái xe chở hàng và nhân viên soát vé xe điện. Fabrizi đã đi lưu diễn khắp châu Âu, Mỹ Latinh và Broadway, từng có Alberto Sordi trong nhóm diễn viên của mình vào khoảng năm 1937. Ông kết hôn với ca sĩ Beatrice Rocchi (Reginella) cho đến khi bà qua đời năm 1981. Sau khi ông qua đời ở Rome vào ngày 2 tháng 4 năm 1990, Bưu điện Ý đã phát hành một tem kỷ niệm tưởng nhớ Aldo Fabrizi sau cùng năm đó.
Ambra Angiolini là một nữ diễn viên và ca sĩ người Ý, sinh ra ở Rome vào ngày 22 tháng 4 năm 1977, con của Alfredo Angiolini và Doriana Comini. Cô có hai anh chị lớn là Barbara và Andrea. Sự nghiệp của cô bắt đầu khi 13 tuổi với vai quần chúng trong chương trình truyền hình Fantastico vào năm 1990 và 1991. Cô được công nhận sớm khi tham gia Bulli e pupe năm 1992, biểu diễn bài hát 'Poster' của Claudio Baglioni, và sau đó làm người dẫn chương trình cho Non è la RAI từ năm 1992 đến 1993, một vai trò đã tăng cường đáng kể hình ảnh của cô. Trong thời gian tham gia chương trình Non è la RAI , Ambra Angiolini đã khởi động sự nghiệp ca hát, phát hành đĩa đơn 'T'appartengo' vào năm 1994. Điều này dẫn đến việc phát hành album đầu tay của cô, T'appartengo , đạt được thành công đáng kể, bán được 800.000 bản và giành được tám chứng nhận bạch kim và một chứng nhận vàng. Cô tiếp tục phát hành nhạc, với Angiolini (còn được biết đến là Angelitos ) xuất hiện năm 1996, Ritmo vitale năm 1997 (kèm theo phiên bản tiếng Tây Ban Nha năm 1998), và InCanto năm 1999. Những nỗ lực âm nhạc của cô còn bao gồm biểu diễn tại Lễ hội Bài hát Quốc tế Viña del Mar ở Chile vào tháng 2 năm 1997 và tham gia vở nhạc kịch Emozioni năm 2001. Cô cũng làm người dẫn chương trình cho nhiều chương trình truyền hình khác, bao gồm Generazione X , Super và Sanremo Top 1997 . Ambra Angiolini chuyển sang đóng phim điện ảnh với vai diễn đầu tay trong *Saturn in Opposition* (2007). Vai diễn này đã chứng tỏ là bước ngoặt quan trọng, giúp cô giành được David di Donatello cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, Nastro d'Argento cho Nữ diễn viên phụ xuất sắc nhất, Ciak d'oro và một Globo d'oro vào năm 2007. Sau đó, cô đã xuất hiện trong nhiều bộ phim khác, bao gồm *Black and White* (2008), *The Immature* (2011), *Viva l'Italia* (2013), *Do You Remember Me?* (2014) và *The Choice* (2015). Năm 2022, cô nhận được một Nastro d'argento khác cho vai diễn trong *Le fate ignoranti*. Cô từng sống với Francesco Renga từ thời điểm không xác định cho đến năm 2015, và họ có hai con: Jolanda (sinh năm 2004) và Leonardo (sinh năm 2006). Cô có mối quan hệ với Massimiliano Allegri từ năm 2017 đến năm 2021.
Carlo Pedersoli, được biết đến chuyên nghiệp với tên Bud Spencer, là một diễn viên, vận động viên bơi lội và cầu thủ polo nước người Ý. Ông sinh ngày 31 tháng 10 năm 1929 tại Naples, có cha mẹ là Alessandro Pedersoli và Rosa Facchetti, quê gốc từ Darfo Boario Terme và Chiari, đều nằm trong tỉnh Brescia của Ý. Công việc của cha ông đòi hỏi phải chuyển đến Rome vào năm 1940, điều này đã thay đổi đáng kể diễn biến cuộc thơ ấu của ông. Những năm đầu đời của Bud Spencer bao gồm việc đi học tiểu học cùng với Luciano De Crescenzo, thể hiện một mối liên kết sớm với giới nghệ thuật. Ông theo học tại Đại học Sapienza Rome, ban đầu học ngành hóa học trước khi cuối cùng lấy bằng luật. Trước khi trở nên nổi tiếng với vai trò diễn viên hài, Carlo Pedersoli đã đạt được những thành tích xuất sắc trong lĩnh vực thể thao. Anh đã hai lần đại diện cho Ý tham gia Olympic Mùa hè; cả năm 1952 và 1956, anh đều lọt vào bán kết ở nội dung bơi tự do 100m. Anh cũng đạt được những thành công đáng kể trong bơi lội và bóng nước, bơi 100m tự do dưới một phút vào ngày 19 tháng 9 năm 1950 và giành được huy chương bạc tại Đại hội Địa Trung Hải năm 1951. Thể hiện thêm khả năng thể thao của mình, anh đã giành chức vô địch bóng nước Ý năm 1954 và giành được huy chương vàng tại Đại hội Địa Trung Hải năm 1955. Kỹ năng đa dạng của anh mở rộng ra ngoài lĩnh vực thể thao; anh đã đăng ký nhiều bằng sáng chế, có chứng chỉ phi công hàng không thương mại và trực thăng, và từng làm việc ngắn hạn trong nhiều vai trò khác nhau ở Nam Mỹ. Sự nghiệp diễn xuất của Bud Spencer bắt đầu với bộ phim (1950), sau đó là các vai diễn trong các phim như (1951) và (1954). Tuy nhiên, ông nổi tiếng nhất nhờ sự hợp tác với Terence Hill, cùng nhau xuất hiện trong 18 bộ phim. Tên 'Bud Spencer' là một lựa chọn có chủ ý, lấy cảm hứng từ bia Budweiser và diễn viên Spencer Tracy. Ông được trao giải David di Donatello cho thành tựu trọn đời vào năm 2010, ghi nhận đóng góp đáng kể của ông cho điện ảnh Ý. Vào ngày 27 tháng 6 năm 2016, Bud Spencer qua đời tại Rome, được nhớ đến vì những đóng góp của ông cho cả hài kịch và thể thao, đồng thời đã nhận được Caimano d'oro (Cá sấu vàng) từ Liên đoàn Bơi lội Ý vào năm 2005.
Carlo Verdone là một diễn viên, nhà hài kịch, đạo diễn và biên kịch người Ý, sinh ra ở Rome vào ngày 17 tháng 11 năm 1950. Quá trình hình thành gia đình ông bao gồm cha, Mario Verdone, một giáo sư lịch sử điện ảnh và phê bình, và mẹ, Rossana Schiavina, một giáo sư văn học. Ông nội theo cha, Oreste, là một nhà hóa học đến từ Pozzuoli (Naples). Ông đã theo học tại Collegio Nazareno ở Rome, nơi ông gặp Christian De Sica, và sau đó học tại Liceo classico ở Rome. Verdone tốt nghiệp Văn học Hiện đại từ Đại học Sapienza ở Rome vào năm 1976-1977 với luận án về điện ảnh câm Ý, và tốt nghiệp Đạo diễn Phim từ Centro Sperimentale di Cinematografia vào năm 1974. Verdone khởi đầu sự nghiệp với phong cách hài hước của mình vào những năm 1970. Ông xuất hiện trong các quảng cáo cho chương trình Carosello và ra mắt trên truyền hình năm 1977 trong chương trình tạp kỹ Non stop . Ông giới thiệu các nhân vật của mình trên truyền hình năm 1978 trong loạt phim hài Non Stop . Sergio Leone đã trao cho ông cơ hội đóng phim đầu tiên và hướng dẫn ông về các kỹ thuật làm phim. Ông đã thực hiện những bộ phim ngắn nghiệp dư từ khi còn trẻ, bao gồm Poesia solare (1969), Allegoria di primavera (1971) và Elegia notturna (1973). Bộ phim đầu tay của ông với vai trò đạo diễn là Un sacco bello (1980), sau đó là Fun Is Beautiful (1980) nơi ông đóng ba nhân vật. Ông đồng viết Journey with Papà với Sergio Leone, và Troppo forte với Verdone và Leone. Các tác phẩm của Verdone bao gồm bộ phim được đánh giá cao Bianco, rosso e Verdone (1981), sản xuất bởi Sergio Leone và có sự tham gia của Elena Fabrizi, cùng nhạc phim do Ennio Morricone sáng tác. Ông đạo diễn bộ phim Talcum Powder (1982) đã giành được nhiều giải David di Donatello, và đồng viết kịch bản với Enrico Oldoini. Kể từ những năm 1990, các tác phẩm của ông đã khám phá những chủ đề nghiêm túc hơn. Ông viết cuốn sách Fatti Coatti vào năm 1999. Verdone đóng vai chính trong loạt phim Manual of Love (2005, 2007, 2011) và xuất hiện trong bộ phim The Great Beauty (2013) của Paolo Sorrentino. Ông đạo diễn bộ phim Blessed Madness (2018), đồng viết kịch bản với Nicola Guaglianone và Menotti. Ông đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm chín giải David di Donatello, bốn giải Globi d’oro, mười một giải Nastri d'argento và hai giải Premi Flaiano. Năm 2017, ông được trao bằng tiến sĩ danh dự về Di sản Văn hóa và Lãnh thổ từ Đại học Rome Tor Vergata. Gần đây, ông đóng vai chính trong bộ phim L'Abbiamo Fatta Grossa (2016), trong đó ông vào vai Arturo Merlino, một thám tử tư khiêm tốn, cùng với Antonio Albanese trong vai Yuri Pelagatti.
Dario Vergassola là một diễn viên giải trí người Ý với sự nghiệp đa dạng bao gồm hài kịch, diễn xuất, viết lách, ca hát và phát thanh. Ông sinh ra ở La Spezia năm 1957, bắt đầu sự nghiệp chuyên nghiệp với vai trò công nhân nhà máy trước khi chuyển sang thế giới giải trí. Ông lần đầu tiên được công nhận vào năm 1988 khi tham gia chương trình 'Professione Comico,' giành cả giải thưởng của khán giả và phê bình. Sau thành công này, ông xuất hiện trong 'Star 90' năm 1989 và làm phóng viên cho 'Il TG delle vacanze' năm 1991. Phong cách hài hước của Vergassola đã được giới thiệu trên nhiều chương trình truyền hình Ý. Trong suốt sự nghiệp của mình, Massimo Vergassola là một nhân vật hài kịch quen thuộc trong các chương trình như 'Maurizio Costanzo Show,' 'Zelig,' 'Mai dire Gol,' và 'Quelli che il calcio.' Hơn nữa, ông từng làm người dẫn chương trình hoặc đồng dẫn chương trình cho nhiều chương trình khác, đáng chú ý là 'Bulldozer,' 'Kilimangiaro,' 'Sei in un Paese meraviglioso,' và ông đã chủ trì hai phiên bản của 'Concerto del Primo Maggio' vào năm 2014 và 2015. Công việc diễn xuất của Vergassola bao gồm nhiều lần xuất hiện với vai Erminio trong 'Dio vede e provvede' và vai Pippo Santi trong 'Carabinieri.' Sản phẩm âm nhạc của ông bao gồm các album phòng thu, cụ thể là 'Manovale gentiluomo' (1992) và 'Lunga vita ai pelandroni' (1999), và đĩa đơn “Mario (Marta),” đã giành chiến thắng tại Festival di Sanscemo năm 1992. Ngoài truyền hình và âm nhạc, Vergassola đã khẳng định mình là một nhà văn. Ông đã xuất bản nhiều cuốn sách với các nhà xuất bản lớn của Ý như Mondadori, Feltrinelli và Baldini & Castoldi, bao gồm cuốn sách có tên 'Lunga vita ai pelandroni' năm 2000 và tiểu thuyết đầu tay của ông, 'La ballata delle acciughe,' năm 2014. Các cộng tác của ông bao gồm đồng sáng tác và đóng vai trong chương trình 'Tenera è la notte' năm 1996 và lưu diễn với 'Bimbi belli' cùng Stefano Nosei từ năm 1993. Năm 2013, ông đã tạo một video YouTube ủng hộ thanh thiếu niên LGBTQ+. Hiện tại, ông dự kiến sẽ trở lại chương trình 'Zelig' vào năm 2026 để kỷ niệm lần thứ 30, tiếp tục sự nghiệp lâu dài và đa dạng của mình trong làng giải trí Ý.
Monica Vitti, tên thật là Maria Luisa Ceciarelli, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1931 tại Rome, là một nữ diễn viên và nhân vật truyền hình người Ý. Mẹ cô là Adele Vittiglia quê Bologna và cha cô là Angelo Ceciarelli, với tên sân khấu được chọn từ tên bà nội của mẹ cô, Vitti. Cô đã trải qua một phần tuổi thơ ở Messina và Naples, chứng kiến những sự kiện chiến tranh đã nuôi dưỡng niềm đam mê với nhà hát. Khi còn bé, cô được gọi là 'setti vistini' vì cách phối đồ nhiều lớp của mình. Sự huấn luyện chính thức của Vitti bắt đầu tại Học viện Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia, nơi bà tốt nghiệp năm 1953, học tập với các giảng viên như Silvio D’Amico và Sergio Tofano. Bà cũng theo học tại Pittman’s College và đi lưu diễn Đức cùng một đoàn kịch Ý. Lần xuất hiện trên sân khấu đầu tiên của bà là trong vở La Mandragola của Niccolò Machiavelli, sau đó là Mariana trong vở L’avaro của Molière năm 1955. Bà lần đầu xuất hiện trên màn ảnh không được ghi tên trong phim Laugh! Laugh! Laugh! năm 1954. Trong suốt gần bốn mươi năm sự nghiệp, bà nổi tiếng với giọng khàn và sự hiện diện sôi động. Vitti đạt được sự công nhận quốc tế thông qua các vai diễn trong phim của Michelangelo Antonioni, đặc biệt là L'Avventura (1960), bộ phim có hình ảnh của bà trên tem bưu điện Ý. Bà đóng vai chính trong các bộ phim tiếp theo của những gì trở thành "bộ tứ bất khả giao tiếp" của Antonioni: La Notte (1961) với Jeanne Moreau và Marcello Mastroianni, L'Eclisse (1962) với Alain Delon, và Il deserto rosso (1964). Bà hợp tác với các diễn viên như Marcello Mastroianni, Alain Delon, Richard Harris, Terence Stamp và Dirk Bogarde. Ngoài những vai diễn kịch tính này, Vitti còn thể hiện tài năng hài hước trong các bộ phim như La ragazza con la pistola và Io so che tu sai che io so , và đạo diễn nhiều bộ phim hài cùng Carlo Di Palma, bắt đầu với Teresa the Thief (1973). Những màn trình diễn của bà đã mang lại cho bà năm giải David di Donatello cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất, cộng thêm bốn sự công nhận đặc biệt. Bà cũng nhận được bảy giải Golden Globe Ý cho Nữ diễn viên xuất sắc nhất, cùng với một Golden Globe Sự nghiệp và Giải Sư tử Vàng Sự nghiệp tại Liên hoan phim Venice. Mối quan hệ hợp tác nghệ thuật của Vitti với đạo diễn Michelangelo Antonioni đã vượt xa các dự án điện ảnh, tiến triển thành một mối quan hệ tình cảm. Bà lồng tiếng cho nhân vật Dorian Gray trong phim Il grido . Sau một sự nghiệp dài, Monica Vitti qua đời tại Rome vào ngày 2 tháng 2 năm 2022, để lại một di sản đáng kể trong điện ảnh Ý.
Roberto Salerno, chuyên nghiệp được biết đến với tên Nini Salerno, là một diễn viên, đạo diễn, ca sĩ, diễn viên hài và nghệ sĩ cabaret người Ý. Ông sinh ra ở Verona vào ngày 8 tháng 10 năm 1948, có liên quan đến nhà báo phát thanh Paolo Salerno và có một người anh trai, Nicola Salerno, là thành viên của RADAR và NAD. Ông kết hôn với Patrizia, người mà ảnh hưởng đã truyền cảm hứng cho bài hát 'Rimmel' của Francesco De Gregori. Sự nghiệp của Salerno bắt đầu vào năm 1971 khi ông trở thành thành viên sáng lập và tham gia nhóm hài kịch và âm nhạc người Ý I Gatti di Vicolo Miracoli. I Gatti di Vicolo Miracoli được thành lập tại Verona vào năm 1971, và Salerno ở lại với nhóm từ năm đó cho đến khi tan rã vào năm 1985. Nhóm nhanh chóng nổi tiếng, biểu diễn tại Derby Club ở Milan bắt đầu từ năm 1971 và thường xuyên tham gia các chương trình tạp kỹ của RAI từ năm 1975. Họ phát hành album đầu tay, 'I Gatti di Vicolo Miracoli', vào năm 1972, và được Arturo Corso đạo diễn trong các chương trình châm biếm và âm nhạc. Salerno cũng đóng vai chính trong các bộ phim hài Arrivano i gatti và Una vacanza bestiale vào năm 1980. Nhóm đạt được thành công đáng kể với bài hát hit "Capito?" vào năm 1979, đạt vị trí thứ tư trên bảng xếp hạng âm nhạc Ý. Sau khi một thành viên rời đi vào năm 1981, nhóm tiếp tục hoạt động với tư cách là bộ ba. Sau khi nhóm After I Gatti di Vicolo Miracoli tan rã năm 1985, Salerno tiếp tục làm việc rộng rãi trong điện ảnh, truyền hình và sân khấu với vai trò diễn viên, đạo diễn và biên kịch. Ông đạo diễn bộ phim *Arrivano i miei* năm 1983 và xuất hiện trong các phim như *Un ufficiale non si arrende mai nemmeno di fronte all'evidenza* (1973) và *Secondo Ponzio Pilato* (1987). Salerno cũng đã tham gia nhiều bộ phim truyền hình, bao gồm *I ragazzi del muretto* (1991), *Il commissario Corso* (1991) và *Un medico in famiglia* (1999-2000). Ông làm người dẫn chương trình hoặc xuất hiện trong nhiều chương trình TV khác nhau trong suốt sự nghiệp của mình, bao gồm *Quo vadiz?* (1984), *Un fantastico tragico venerdì* (1986), *Amici mostri* (1993-1994) và là khách mời thường xuyên của *Buona Domenica* (1998-1999). Đôi khi, Salerno tái hợp với I Gatti di Vicolo Miracoli để xuất hiện trong phim, truyền hình và sân khấu từ năm 1997. Hiện tại, Salerno đang đóng vai Thanh tra Gordon trong một phiên bản sân khấu của loạt phim truyền hình Colombo. Sự nghiệp của Salerno không chỉ dừng lại ở màn trình diễn; ông còn làm việc trong quảng cáo thương mại, xuất hiện trong các chiến dịch cho Fiat 500X (2015) và Fiat 124 Spider (2016). Năm 1978, ông nhận nuôi một bé trai hai tuổi tên Garvey Salerno từ Martinica. Tác phẩm đa dạng của ông thể hiện sự linh hoạt với vai trò một nghệ sĩ giải trí và sự hiện diện bền bỉ trong làng giải trí Ý.
Nino Manfredi, tên thật là Saturnino Manfredi, sinh ngày 22 tháng 3 năm 1921 tại Castro dei Volsci, Frosinone, là một nghệ sĩ đa tài người Ý. Trong suốt sự nghiệp của mình, ông đảm nhiệm nhiều vai trò: diễn viên, diễn viên lồng tiếng, đạo diễn, nhà biên kịch, nhà soạn kịch, diễn viên hài, ca sĩ, tác giả, nhân vật radio và người dẫn chương trình truyền hình. Ông được nhớ đến như một nhân vật nổi bật trong thể loại commedia all'italiana. Cha mẹ của Manfredi là Romeo Manfredi và Antonina Perfili, và ông đã dành tuổi thơ ở khu vực San Giovanni của Rome sau khi theo học Collegio Santa Maria với tư cách là học sinh bán trú. Thời thơ ấu của Manfredi bị đánh dấu bởi bệnh tật; ông mắc bệnh lao phổi năm 1937 và đã dành thời gian trong một bệnh viện phục hồi chức năng. Trong thời gian này, ông học chơi đàn banjo và tham gia ban nhạc của bệnh viện, thể hiện sự quan tâm sớm đối với việc biểu diễn. Năm 1941, ông bắt đầu học đại học tại Khoa Luật; tuy nhiên, ông nhanh chóng chuyển hướng sự chú ý sang diễn xuất. Ông ra mắt với vai trò người dẫn chương trình và diễn viên trong nhà hát nhỏ của nhà thờ cùng năm đó, và tốt nghiệp ngành luật vào tháng 10 năm 1945 với luận án về tự vệ. Ông tốt nghiệp Học viện Nghệ thuật Biểu diễn Quốc gia vào tháng 6 năm 1947, sau đó lần đầu xuất hiện trên sân khấu cùng năm. Trong năm 1948, ông biểu diễn trong các vở kịch như Romeo và Juliet và The Storm tại Piccolo Teatro di Milano, đồng thời bắt đầu sự nghiệp phát thanh với vai trò diễn viên hài và người bắt chước. Sự nghiệp của Manfredi phát triển mạnh mẽ trong suốt những năm 1950 và tiếp tục sau đó. Ông ra mắt phim năm 1949 với Torna a Napoli và hợp tác với Eduardo De Filippo, dựng ba vở kịch một hồi tại Teatro Eliseo giữa năm 1952 và 1953. Từ năm 1951, ông thành lập bộ ba hài hước cùng Paolo Ferrari và Gianni Bonagura, giành được sự công nhận thêm thông qua các chương trình tạp kỹ và revue trên đài phát thanh. Ông làm người dẫn chương trình Canzonissima cùng Delia Scala và Paolo Panelli từ năm 1959, đáng kể tăng cường sự nổi tiếng của mình. Ông đạt được thành công trong các vở hài kịch âm nhạc như Un trapezio per Lisistrata (1958) và Rugantino (1962). Trong suốt sự nghiệp của mình, Manfredi đã nhận được nhiều giải thưởng, bao gồm sáu giải David di Donatello và sáu giải Nastro d’Argento. Ông cũng giành giải Prix de la première oeuvre tại Liên hoan phim Cannes năm 1971 cho bộ phim Between Miracles . Nino Manfredi qua đời ở Rome vào ngày 4 tháng 6 năm 2004.
Một diễn viên, danh hài, đạo diễn phim và nhà văn người Ý, Paolo Villaggio ra đời ngày 30 tháng 12 năm 1932 tại Genoa. Cha ông là Ettore Villaggio, một người đo đạc từ Palermo, và mẹ ông là Maria Faraci, một giáo viên dạy tiếng Đức từ Venice. Piero, một người anh sinh đôi của Paolo Villaggio, từng là giáo sư tại Đại học Pisa. Tuổi thơ của Villaggio bao gồm nhiều kinh nghiệm khác nhau; ông từng làm bồi bàn, phát ngôn viên của BBC và ca sĩ giải trí trên các tàu du lịch Costa Cruises, và sau đó tại Cosider, nơi việc tổ chức các sự kiện công ty đã truyền cảm hứng cho nhân vật Ugo Fantozzi của ông. Sự nghiệp của Villaggio bao gồm nhiều hoạt động sáng tạo khác nhau. Ông tạo ra những nhân vật đáng nhớ như Giáo sư Kranz, Giandomenico Fracchia và nổi tiếng nhất là Ugo Fantozzi. Phẩm chất hài hước của ông mang tính đổi mới và siêu thực, lấy cảm hứng từ commedia dell'arte, và ông sử dụng các kỹ thuật như từ mới, tính từ nhấn mạnh, lỗi hình thái học và thuật ngữ hành chính trong văn viết. Ông đã viết nhiều cuốn sách châm biếm có nhân vật Ugo Fantozzi, với Fantozzi (1971) bán được hơn một triệu bản và giành được Giải Gogol ở Moscow. Nhân vật Ugo Fantozzi đã phát triển thành một loạt phim điện ảnh thành công rộng rãi, với Villaggio đóng vai chính trong bộ phim Fantozzi (1975), do Luciano Salce đạo diễn. Ông cũng cộng tác với Federico Fellini, Lina Wertmüller, Ermanno Olmi, Mario Monicelli và Gabriele Salvatores trong các bộ phim, thường xuất hiện trong các vai diễn kịch tính. Trong suốt sự nghiệp của mình, Villaggio đã nhận được vô số giải thưởng. Ông được trao giải David di Donatello năm 1990; ông cũng nhận được Nastro d'Argento năm 1992 và Sư tử Vàng tại Liên hoan phim Venice cùng năm đó, vinh danh những thành tựu trọn đời của ông. Ông cũng nhận được Pardo Danh dự tại Liên hoan phim Locarno vào năm 2000. Sản lượng sáng tạo của Villaggio mở rộng ra ngoài phim ảnh và sách; ông đã viết các bài hát với Fabrizio De André, bao gồm 'Carlo Martello torna dalla battaglia di Poitiers' và 'Il fannullone,' và đóng trong các vở kịch sân khấu, đóng vai Arpagone trong L'Avare của Molière năm 1996. Ông cũng làm người dẫn chương trình cho bản tin thời sự châm biếm Striscia la notizia năm 1996, và trước đó đã dẫn chương trình truyền hình thử nghiệm và tiên phong vào cuối những năm 1960. Các nhà phê bình như Goffredo Fofi, Michele Serra, Enrico Giacovelli và Beppe Grillo đã so sánh ông với Buster Keaton, Charlie Chaplin, Stan Laurel và Oliver Hardy. Paolo Villaggio qua đời ở Rome vào ngày 3 tháng 7 năm 2017 do biến chứng từ bệnh tiểu đường.
Tosca D'Aquino, một nữ diễn viên, diễn viên hài và người dẫn chương trình truyền hình người Ý, chào đời ở Naples vào ngày 10 tháng 6 năm 1966. Cha mẹ cô là Claudio và Adele D'Aquino. Cô bắt đầu sự nghiệp của mình từ năm 15 tuổi với các vai diễn trong các chương trình truyền hình địa phương, nhanh chóng thể hiện sự quan tâm đến lĩnh vực biểu diễn. Năm 19 tuổi, cô chuyển đến Rome để theo đuổi sự nghiệp diễn xuất, cho thấy cam kết phát triển kỹ năng của mình. D'Aquino theo học tại Học viện Nghệ thuật Kịch Silvio D'Amico và tốt nghiệp từ Học viện Nghệ thuật Kịch Silvio d'Amico. Những vai diễn ban đầu của cô bao gồm các vai trong Fantastico (1986) và Fantastico 7 (1986). Cô ra mắt điện ảnh trong Rimini Rimini - Un anno dopo (1988), sau đó là các vai diễn trong Street Kids (1989) và Paganini (1989), còn được biết đến với tên Kinski Paganini (1989). Trong suốt những năm 1990, cô thường xuyên xuất hiện trong các vai diễn hài trong phim, giành được sự nổi tiếng thông qua các chương trình truyền hình. Cô đóng vai chính trong Captain Fracassa's Journey (1990) và Black Holes (1995), đồng thời tham gia các bộ phim như The Graduates (1995) và The Cyclone (1996), đáng chú ý là làm việc với Leonardo Pieraccioni. Từ năm 2000 trở đi, D'Aquino tiếp tục làm việc trong lĩnh vực truyền hình, xuất hiện trong nhiều chương trình và phim truyện khác nhau. Cô đồng dẫn chương trình Torno Sabato của RAI cùng với Giorgio Panariello vào đầu những năm 2000. Năm 2005, cô đồng dẫn phiên bản thứ 48 của Zecchino d'Oro. Cô tham gia Notti sul ghiaccio năm 2007 và phiên bản thứ ba của Premio Città dei Cavalieri di Malta năm 2009. D'Aquino cũng khám phá những sở thích ẩm thực, làm trợ lý đầu bếp trong chương trình La terra dei cuochi năm 2013 và tham gia MasterChef năm 2012. Cô giành chiến thắng ở phiên bản thứ hai của Bake Off Italia Celebrity Edition năm 2017 cùng với Francesca Piccolo. Từ năm 2019 đến 2020, cô giữ chức giám đốc nghệ thuật và đồng dẫn chương trình của Sabaudia Studios Festival. Cô đã kết hôn hai lần; lần đầu với kỹ sư Mauro Gabrielli, với người cô có một con trai tên Edoardo (sinh năm 1999), và sau đó với nhà sản xuất Massimo Martino vào năm 2013, với người cô có một con trai tên Francesco (sinh năm 2005).
Albania
1
Armenia
1
Argentina
24
Áo
28
Úc
22
Azerbaijan
1
Bỉ
13
Bulgaria
31
Benin
2
Bolivia
1
Brazil
12
Canada
48
Thụy Sĩ
17
Chile
8
Cameroon
1
Trung Quốc
7
Colombia
2
Cộng hòa Séc
7
Đức
188
Đan Mạch
17
Cộng hòa Dominica
1
Algeria
2
Estonia
5
Ai Cập
4
Tây Ban Nha
74
Phần Lan
15
Pháp
211
Vương quốc Anh
148
Ghana
3
Hy Lạp
18
Guatemala
1
Hungary
7
Indonesia
8
Ireland
20
Israel
9
Ấn Độ
11
Iraq
3
Iran
6
Jamaica
1
Nhật Bản
35
Kenya
3
Hàn Quốc, Nam
20
Kazakhstan
1
Lebanon
5
Latvia
1
Ma-rốc
17
Myanmar
1
Malta
1
Malawi
2
Mexico
28
Malaysia
7
Nigeria
19
Nicaragua
2
Hà Lan
2
Na Uy
12
Nepal
3
New Zealand
9
Peru
2
Philippines
35
Pakistan
7
Ba Lan
8
Bồ Đào Nha
7
Qatar
1
Romania
1
Serbia
3
Nga
9
Ả Rập Xê Út
4
Thụy Điển
101
Slovenia
4
Slovakia
2
Thái Lan
2
Tunisia
4
Thổ Nhĩ Kỳ
5
Đài Loan
1
Ukraine
1
Uganda
7
Hoa Kỳ
213
Uruguay
1
Uzbekistan
1
Việt Nam
1
Nam Phi
2
Ý có một truyền thống hài kịch phong phú kéo dài qua sân khấu, điện ảnh, truyền hình, biểu diễn trực tiếp và hài độc thoại hiện đại. Các diễn viên hài Ý đã phát triển nhiều hình thức hài hước khác nhau trong những năm qua, từ hài kịch sân khấu và cabaret đến hài độc thoại quan sát, châm biếm và hài tình huống.
Thư mục của GiggleTime tập hợp các diễn viên hài Ý, những người biểu diễn hài độc thoại, diễn viên đóng phim hài, nghệ sĩ biểu diễn và các nhân vật khác có liên quan đến nền hài kịch và giải trí Ý. Duyệt qua hồ sơ ở trên để khám phá những diễn viên hài từ nhiều thế hệ khác nhau và tìm hiểu thêm về sự nghiệp và công việc của họ.
Tự thuật hài đang trở thành một phần ngày càng nổi bật trong cảnh giải trí của Ý, với những người biểu diễn xuất hiện tại các câu lạc bộ hài, nhà hát, địa điểm văn hóa và lễ hội trên khắp cả nước.
Các diễn viên hài độc thoại người Ý khai thác nhiều chủ đề khác nhau, bao gồm cuộc sống hàng ngày, các mối quan hệ, công việc, gia đình, văn hóa và xã hội đương đại. Một số nghệ sĩ tập trung vào kể chuyện cá nhân và hài hước quan sát, trong khi những người khác sử dụng châm biếm, mỉa mai, nhân vật hoặc các hình thức hài kịch thử nghiệm hơn.
Milan và Rome là những trung tâm quan trọng cho các hoạt động giải trí trực tiếp và hài kịch, trong khi các diễn viên hài cũng biểu diễn trên khắp các thành phố và vùng miền của nước Ý. Sự phát triển của các nền tảng kỹ thuật số đã mang đến cho những người biểu diễn mới nổi thêm nhiều cách để xây dựng khán giả vượt ra ngoài mạng lưới hài truyền thống.
Cabaret có một vị trí quan trọng trong nền hài kịch Ý, kết nối giải trí trực tiếp với âm nhạc, sân khấu, châm biếm và sự hài hước. Hài kịch Ý đã sản sinh ra những nghệ sĩ biểu diễn và các nhóm hài mà tác phẩm của họ đã tiếp cận khán giả thông qua cả chương trình trực tiếp và truyền hình.
Truyền thống hài kịch sân khấu của đất nước này cũng tiếp tục ảnh hưởng đến các nghệ sĩ hiện đại. Các diễn viên hài người Ý có thể kết hợp tài liệu được viết sẵn, nhân vật, hài kịch hình thể, ứng biến và tương tác với khán giả thay vì chỉ dựa vào định dạng độc thoại truyền thống.
Sự kết hợp giữa các phương pháp sân khấu và đương đại này mang đến cho hài kịch Ý một loạt các phong cách và hình thức biểu diễn đa dạng.
Điện ảnh và truyền hình đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giới thiệu các diễn viên hài người Ý đến với đông đảo khán giả. Ý có một lịch sử lâu dài về phim hài và các diễn viên hài, với những nghệ sĩ thường xuyên di chuyển giữa sân khấu, truyền hình và điện ảnh.
Truyền hình Ý cũng đã có các chương trình hài kịch, chương trình tạp kỹ, phim sitcom và các định dạng giải trí đã giúp giới thiệu và phổ biến các diễn viên hài. Một số diễn viên chủ yếu được biết đến với vai trò diễn viên, trong khi những người khác đã kết hợp hài hước với viết lách, đạo diễn, dẫn chương trình hoặc sản xuất.
Mối liên kết giữa hài kịch Ý và điện ảnh đặc biệt mạnh mẽ, với các màn trình diễn hài hước đóng vai trò quan trọng trong truyền thống điện ảnh của đất nước này.
Cảnh hài Ý tiếp tục thay đổi khi những người biểu diễn mới thử nghiệm với các định dạng và cách thức tiếp cận khán giả khác nhau.
Bên cạnh các câu lạc bộ hài và nhà hát, các diễn viên hài hiện đang sử dụng podcast, YouTube, mạng xã hội và các nền tảng phát trực tuyến để đăng tải các đoạn phác thảo, các đoạn clip hài độc thoại và các nội dung gốc khác. Những nền tảng này đã cho phép các diễn viên hài người Ý mới nổi phát triển khán giả một cách độc lập và tiếp cận người xem vượt ra ngoài khu vực địa phương của họ.
Sân khấu hài truyền thống và các định dạng kỹ thuật số mới hiện đang tồn tại song hành, tạo ra cơ hội cho nhiều loại hình nghệ sĩ và phong cách khác nhau.
Đang tìm kiếm những diễn viên hài người Ý, diễn viên hài độc thoại người Ý hoặc những nghệ sĩ hài đến từ Ý? Hãy khám phá thư mục GiggleTime ở trên để tìm thấy những diễn viên hài và nhân vật hài hước từ các khu vực khác nhau của ngành giải trí Ý.
Sử dụng tính năng tìm kiếm để tìm một diễn viên hài cụ thể hoặc duyệt qua hồ sơ để khám phá những cái tên mới. Các hồ sơ cá nhân có thể bao gồm thông tin tiểu sử, chi tiết sự nghiệp, các buổi biểu diễn, ảnh và những thông tin thú vị khác.
Dù bạn quan tâm đến tiểu phẩm hài Ý, quán cà phê hài Ý, diễn viên hài, các diễn viên hài truyền hình Ý hay những người hề Ý nổi tiếng, GiggleTime giúp bạn dễ dàng khám phá những người đứng sau sự hài hước của nước Ý.
Danh bạ này tiếp tục phát triển khi có thêm các diễn viên hài và nhân vật hài người Ý được bổ sung.