Karl Farkas, sinh ra ở Vienna vào ngày 28 tháng 10 năm 1893, là một diễn viên và nghệ sĩ cabaret người Áo. Ông lớn lên ở Vienna-Leopoldstadt cùng hai chị em gái và một anh trai lớn tuổi, cha mẹ ông, Moritz và Franziska Farkas, điều hành một cửa hàng giày.Chú của mẹ ông là nhà văn Felix Salten. Mặc dù ban đầu cha mẹ muốn ông học luật, nhưng ông đã chọn con đường sân khấu, theo học k.k. Sau khi theo học Trường Phổ thông Thực nghiệm Glasergasse, ông tiếp tục học tại Học viện Âm nhạc và Nghệ thuật Sân khấu Vienna. Ông ra mắt tại Olmütz với vai Hoàng tử Tsarevich năm 1903, bắt đầu sự nghiệp bao gồm nhiều buổi biểu diễn trên sân khấu ở Áo và Moravia. Hành trình hài hước của Farkas rẽ một bước ngoặt đáng kể vào khoảng năm 1921 khi ông gia nhập Kabarett Simpl dưới sự chỉ đạo của Egon Dorn, làm việc ở đó với vai trò 'Blitzdichter' (nhà thơ chớp nhoáng), còn được biết đến là 'Die Zecke.' Ông hợp tác với Fritz Grünbaum trong các Doppelconférences và số chương trình cabaret bắt nguồn từ Budapest. Năm 1924, ông kết hôn với nữ diễn viên Anny Hán. Từ năm 1926, ông làm việc tại Vienna Burgtheater, và năm 1927, ông và Grünbaum trình diễn Marischka Revue, vở kịch này đã có thời gian biểu diễn kéo dài 430 buổi. Ông cũng viết lời cho các bài hát như 'Wenn die Elisabeth nicht so schöne Beine hätt’' và 'Pflückt ein Mädl Ribisel.' Các tác phẩm của ông mở rộng ra các vở revue và phim hài nhạc kịch, bao gồm Journal der Liebe (1926), Wien lacht wieder! (1926), Die Wunder-Bar (1929), Der Traumexpreß (1931), Hofloge (1936), Dixie (1938), và Marinka (1945). Một số phim dựa trên các tác phẩm của ông, bao gồm When the Soldiers (1931), By Candlelight (1933), Wonder Bar (1934), và các bản chuyển thể từ Hofloge và Bei Kerzenlicht . Do nguồn gốc Do Thái của mình, Farkas bị buộc phải lưu vong vào năm 1938, di chuyển qua Brno, Paris và cuối cùng là New York. Trong thời gian ở New York, ông đã viết cuốn sách thơ Farkas entdeckt Amerika . Ông cũng viết lời libretto cho vở opera-revue Marinka của Emmerich Kálmán. Ông từng phục vụ trên các mặt trận Nga, Romania và Ý trong Thế chiến thứ nhất, được trao tặng Huy chương Dũng cảm Bạc. Sau khi trở về Vienna vào năm 1946, ông tái hôn với vợ cũ và tiếp tục biểu diễn tại Kabarett Simpl từ năm 1950, đạo diễn cho đến khi qua đời vào ngày 16 tháng 5 năm 1971. Ông thường xuyên xuất hiện trên truyền hình Áo (ORF) từ năm 1957 trở đi, nổi tiếng với các 'Balances,' và làm chủ chương trình 'Aktualitätlichkeiten' trên Sender Rot-Weiß-Rot. Công việc của ông tiếp tục được công nhận; vào năm 2014, ông đóng vai chính trong cuốn truyện tranh revue Áo Der Blöde und der Gscheite . Ông cũng viết kịch bản phim cho các bộ phim như Lumpenkavaliere (1932) và Adventures on the Lido (1933).